Phần 1: NHỮNG NỘI DUNG CHÍNH CẦN TRUYỀN THÔNG THAY ĐỔI HÀNH VI VỀ CHĂM SÓC SỨC KHỎE BÀ MẸ VÀ TRẺ SƠ SINH
Đối tượng truyền thông TĐHV:
- Phụ nữ độ tuổi sinh đẻ
- Phụ nữ mang thai và sinh đẻ
- Phụ nữ sau sinh, bà mẹ cho con bú
- Nam giới, người chăm sóc trẻ
CHỦ ĐỀ 1: CHUẨN BỊ TRƯỚC KHI MANG THAI
THÔNG ĐIỆP CHỦ CHỐT
• Bạn gái kết hôn khi đủ 18 tuổi trở lên là thực hiện đúng quy định của pháp luật.
• Phụ nữ sinh con trong độ tuổi từ 20 đến 35 tuổi là tốt nhất.
• Khoảng cách giữa 2 lần sinh tốt nhất là từ 3 đến 5 năm.
• Sức khoẻ phụ nữ trước khi mang thai có thể ảnh hưởng đến sức khoẻ của con tương lai, vì vậy cần khám sức khoẻ và tư vấn trước khi mang thai.
• Phụ nữ trước khi mang thai cần được ăn uống đầy đủ để có sức khỏe tốt chuẩn bị cho việc mang thai sau này.
• Bổ sung sắt và axít folic trước khi mang thai 3 tháng để giảm nguy cơ thiếu máu cho bà mẹ và dự phòng dị tật ở thai nhi trong giai đoạn đầu của thai kỳ.
• Kiểm soát cân nặng trước khi mang thai để giảm hậu quả có thể xảy ra khi mang thai và sinh đẻ do thừa cân, béo phì và do thiếu cân, quá gầy.
• Phụ nữ trước khi mang thai cần tiêm phòng theo hướng dẫn của cán bộ y tế (phòng uốn ván, rubella, cúm, HPV…).
• Khám phụ khoa định kỳ và điều trị các bệnh phụ khoa, nhiễm khuẩn đường sinh sản trước khi mang thai.
• Không hút thuốc lá thuốc lào, không sử dụng các chất kích thích và tránh tiếp xúc với hóa chất độc hại.
• Người chồng nhắc nhở và hỗ trợ người vợ để cùng thực hiện chuẩn bị tốt nhất sức khỏe thể chất và tinh thần trước khi mang thai.
THÔNG TIN HỖ TRỢ
• Sau 20 tuổi, cơ thể người phụ nữ phát triển hoàn thiện cho việc mang thai và sinh con.
• Mang thai và sinh con ở lứa tuổi vị thành niên có thể gây ra những biến chứng nguy hiểm cho người mẹ trước, trong và sau sinh.
• Chuẩn bị kết hôn và trước khi mang thai, người phụ nữ và chồng tương lai cần đi khám kiểm tra sức khỏe, để được tư vấn về phòng tránh nguy cơ sinh con bị bệnh tật bẩm sinh và các bệnh lây truyền từ cha mẹ sang con.
• Trước khi kết hôn người phụ nữ cần tiêm phòng theo hướng dẫn của cán bộ y tế (tiêm phòng uốn ván ở độ tuổi 15-35; tiêm phòng rubella trước khi mang thai ít nhất 3 tháng; tiêm vắc xin HPV phòng ung thư cổ tử cung ở độ tuổi 9-26, trước khi có quan hệ tình dục).
• Ăn uống theo chế độ dinh dưỡng hợp lý đủ 4 nhóm thực phẩm, bổ sung sắt- axít folic và vi chất ít nhất 3 tháng trước khi mang thai.
• Nếu chưa có kế hoạch mang thai, vợ chồng cùng nhau thảo luận và tham vấn cán bộ y tế để lựa chọn và quyết định sử dụng biện pháp tránh thai phù hợp.
CHỦ ĐỀ 2: CHĂM SÓC PHỤ NỮ TRONG KHI MANG THAI
THÔNG ĐIỆP CHỦ CHỐT
• Phụ nữ mang thai cần khám thai định kỳ ít nhất 4 lần trong ba giai đoạn của thai kỳ tại cơ sở y tế để được quản lý, theo dõi sức khoẻ của mẹ và thai nhi và được tư vấn về chăm sóc thai nghén, chuẩn bị đầy đủ cho cuộc sinh đẻ an toàn.
• Phụ nữ mang thai cần ăn đầy đủ và cân đối các nhóm thực phẩm (chất bột, chất đạm, chất béo, vitamin và khoáng chất), cần ăn tăng bữa và mỗi bữa ăn nhiều hơn để mẹ khỏe, con khỏe. Không hút thuốc lá, thuốc lào, không uống rượu bia, nước trà đặc và cà phê.
• Phụ nữ mang thai uống 1 viên sắt – axít folic hoặc viên đa vi chất đều đặn mỗi ngày trong suốt thời gian mang thai cho đến hết 1 tháng sau sinh để phòng chống thiếu máu do thiếu sắt và phòng dị tật ở thai nhi.
• Phụ nữ mang thai cần tiêm phòng uốn ván đầy đủ theo hướng dẫn của cán bộ y tế.
• Phụ nữ mang thai không làm việc nặng, không tiếp xúc với chất độc hại và ít nhất 4 tuần trước khi sinh chỉ làm việc nhẹ nhàng.
• Phụ nữ mang thai cần giữ vệ sinh cá nhân sạch sẽ hàng ngày, đặc biệt là vùng sinh dục và vú, mặc quần áo rộng rãi.
• Phụ nữ mang thai và gia đình cần chuẩn bị kỹ càng cho cuộc đẻ (dự kiến nơi sinh, chuẩn bị thẻ bảo hiểm y tế, giấy tờ tùy thân, Sổ theo dõi sức khỏe bà mẹ – trẻ em hoặc Sổ khám thai, tiền, phương tiện vận chuyển, người hỗ trợ, đồ dùng cho mẹ và cho bé).
• Phụ nữ mang thai gần đến ngày sinh không nên đi xa để có thể kịp thời đến cơ sở y tế sinh con.
• Hãy đưa ngay phụ nữ mang thai đến cơ sở y tế khi thấy có bất kỳ dấu hiệu nguy hiểm nào để được cứu chữa kịp thời.
• Đừng vì sợ dịch bệnh, thiếu tiền, đi lại khó khăn mà chậm đưa phụ nữ mang thai đến cơ sở y tế khi có một trong các dấu hiệu nguy hiểm vì có thể đe dọa tính mạng.
• Phụ nữ mang thai cần sinh đẻ tại cơ sở y tế để an toàn tính mạng cho cả mẹ và con.
• Người chồng và gia đình cần quan tâm chăm sóc phụ nữ mang thai để đảm bảo sức khỏe của bà mẹ và sự phát triển của thai nhi.
• Sử dụng “Sổ theo dõi sức khoẻ bà mẹ – trẻ em” ngay khi bắt đầu có thai để biết cách chăm sóc, theo dõi phụ nữ trong quá trình mang thai.
• Mẫu Sổ theo dõi sức khỏe bà mẹ – trẻ em điện tử có thể tải về theo địa chỉ: http//www.sosuckhoe.com
THÔNG TIN HỖ TRỢ
1. Đăng ký thai nghén và khám thai định kỳ:
• Khám thai định kỳ ít nhất 4 lần (lần 1 vào 3 tháng đầu, lần 2 vào 3 tháng giữa, lần 3 và lần 4 vào 3 tháng cuối của thời kỳ thai nghén) để được theo dõi sức khoẻ và tư vấn. Khám thai không phải chỉ là siêu âm.
• Ngoài khám thai định kỳ, bà mẹ cần đi khám ngay bất cứ khi nào thấy có dấu hiệu bất thường.
• Khám thai lần đầu ngay khi chậm kinh, trong vòng 3 tháng đầu:
• Để xác định có thai hay không
• Để hẹn lịch khám thai tiếp theo và lịch tiêm phòng uốn ván
• Được kiểm tra sức khỏe của mẹ
• Được tư vấn các xét nghiệm cần thiết nhằm phát hiện và dự phòng các bệnh lây truyền từ cha mẹ sang con (như giang mai, viêm gan B, HIV…), sàng lọc tiền sản giật và đái tháo đường thai kỳ.
• Được tư vấn về sàng lọc trước sinh nhằm phát hiện bất thường ở thai nhi.
• Khám thai lần thứ hai vào 3 tháng giữa của thai kỳ (từ tháng thứ 4 đến đủ 6 tháng):
• Để kiểm tra xem thai có phát triển bình thường không
• Để theo dõi sức khỏe của mẹ và sàng lọc đái tháo đường thai kỳ
• Khám thai lần thứ ba và lần thứ tư vào 3 tháng cuối của thai kỳ:
• Để theo dõi sức khỏe của bà mẹ và sự phát triển của thai nhi
• Được tư vấn dự kiến ngày sinh
• Được tư vấn chuẩn bị cho cuộc đẻ và lựa chọn nơi sinh.
• Khi có dịch bệnh, phụ nữ mang thai cần giữ đúng lịch khám thai và cần gọi điện đặt lịch khám để giảm thời gian chờ và tránh tiếp xúc với nhiều người.
• Phụ nữ mang thai cần thực hiện các biện pháp phòng bệnh khi đi khám thai trong thời gian có dịch bệnh.
2. Tiêm phòng uốn ván: Tiêm phòng đầy đủ theo hướng dẫn của cán bộ y tế để phòng bệnh uốn ván cho cả con và mẹ. Vắc xin phòng uốn ván không có hại cho mẹ và thai nhi.
• Người chồng và gia đình nhắc nhở, giúp đỡ người phụ nữ mang thai để được tiêm đầy đủ các lần tiêm phòng uốn ván:
• Lần 1: tiêm sớm khi phát hiện có thai.
• Lần 2: tiêm sau lần đầu 1 tháng và ít nhất trước khi sinh 1 tháng.
• Nếu trước khi mang thai đã tiêm đủ 2 mũi vắc xin uốn ván hoặc vắc xin có thành phần uốn ván thì chỉ cần tiêm 1 mũi trong lần mang thai này.
3. Dinh dưỡng trong thời kỳ mang thai
• Ăn uống khi mang thai:
• Ăn đầy đủ và cân đối các nhóm thực phẩm (chất bột, chất đạm, chất béo, vitamin và khoáng chất).
• Ăn nhiều loại thức ăn bổ dưỡng như thịt, cá, trứng, sữa, đậu, đỗ, rau quả tươi… và ăn nhiều hơn bình thường, đặc biệt vào 3 tháng cuối để đảm bảo sức khỏe cho mẹ, nhu cầu phát triển của thai nhi và dự trữ năng lượng để tạo sữa nuôi con.
• Nên uống đủ nước (mỗi ngày từ 1,2 lít đến 1,5 lít).
• Dùng muối I-ốt hàng ngày để chế biến thức ăn.
• Không uống bia, rượu, chè đặc, cà phê, không hút thuốc lá, thuốc lào. Hạn chế dùng quá nhiều gia vị như tiêu, tỏi, gừng, ớt…
• Chỉ dùng thuốc khi có hướng dẫn của cán bộ y tế.
• Phòng chống thiếu máu: Ăn các thức ăn giàu sắt như thịt nạc, cá, trứng, gan, và uống viên sắt – axit folic (hoặc viên đa vi chất) đều đặn từ khi có thai đến sau sinh 1 tháng để phòng chống thiếu máu do thiếu sắt. Axit folic còn có tác dụng dự phòng dị tật bẩm sinh ở thai nhi.
•Theo dõi cân nặng: Trong thời gian mang thai bà mẹ cần tăng từ 10 đến 12 ki lô gam để sinh con đủ cân và khỏe mạnh.
• Tham khảo thông tin về dinh dưỡng cho phụ nữ mang thai theo địa chỉ https://dinhduongmevabe.mch.vn hoặc https://dinhduongmevabe.com.vn để xây dựng thực đơn chế biến các bữa ăn đầy đủ dinh dưỡng khi mang thai.
4. Sàng lọc phát hiện các bệnh của mẹ và bất thường của thai nhi
• Xét nghiệm sàng lọc viêm gan B, giang mai, HIV sớm để được điều trị dự phòng lây truyền từ mẹ sang con trong khi mang thai, khi sinh và trong thời kỳ nuôi con bằng sữa mẹ (nếu phát hiện người mẹ bị mắc bệnh).
• Sàng lọc đái tháo đường: Phụ nữ mang thai được sàng lọc đái tháo đường thai kỳ vào tuần thai thứ 24-28, đặc biệt những người trên 35 tuổi, có tiền sử gia đình mắc bệnh đái tháo đường, thừa cân, béo phì hoặc từng sinh con trên 4 ki lô gam…
• Sàng lọc trước sinh theo hướng dẫn của cán bộ y tế:
• Sàng lọc trước sinh là việc sử dụng các biện pháp thăm dò trong thời kỳ mang thai để phát hiện nguy cơ và chẩn đoán bệnh cho thai nhi (bệnh tan máu bẩm sinh Thalassemia, một số bất thường về số lượng nhiễm sắc thể và hình thái ở thai nhi…).
• Phụ nữ ở mọi lứa tuổi đều có khả năng sinh con mắc khuyết tật, dị tật và bệnh lý, đặc biệt là những người mẹ trên 35 tuổi.
• Sàng lọc trước sinh được thực hiện ở các cơ sở y tế chuyên khoa có các bác sỹ được đào tạo.
• Khi sàng lọc trước sinh, người phụ nữ sẽ được tư vấn, thăm khám, siêu âm thai và xét nghiệm máu. Nếu có dấu hiệu nghi ngờ thì tùy từng trường hợp mà bác sĩ sẽ chỉ định làm các xét nghiệm máu, nước ối, rau thai…
5. Chế độ lao động, sinh hoạt, vệ sinh:
• Làm việc nhẹ nhàng. Tránh làm công việc nặng nhọc và vác nặng trên đầu hoặc trên vai, tránh ngâm người vào nước hoặc leo trèo, tránh làm việc ban đêm.
• Giữ cho tinh thần luôn thoải mái.
• Ngủ ít nhất 8 giờ mỗi ngày.
• Sinh hoạt tình dục nhẹ nhàng, tuỳ theo trạng thái sức khoẻ với tư thế phù hợp (không đè trực tiếp lên bụng khi đang mang thai). Hạn chế quan hệ tình dục trong 3 tháng đầu và 3 tháng cuối, đặc biệt với những phụ nữ có tiền sử sảy thai hoặc dọa sảy thai. Không sinh hoạt tình dục khi thấy có các dấu hiệu bất thường (đau bụng, ra dịch hoặc ra máu, khi mệt mỏi…).
• Giữ vệ sinh cá nhân: Vệ sinh vùng kín hàng ngày bằng nước sạch và xà phòng, thường xuyên tắm và thay quần áo. Nên rửa núm vú hằng ngày bằng nước sạch. Tránh mặc quần áo chật.
• Không tiếp xúc với thuốc trừ sâu và hoá chất độc hại.
• Nghỉ ngơi ít nhất 4 tuần trước khi sinh.
6. Theo dõi, phát hiện và xử trí khi có dấu hiệu nguy hiểm:
Trong khi mang thai nếu có một trong các dấu hiệu nguy hiểm thì cần đến ngay cơ sở y tế.
Phụ nữ mang thai và người thân trong gia đình cần biết các dấu hiệu nguy hiểm trong thời kỳ mang thai, bao gồm:
(1) Ra máu từ cửa mình hoặc đau bụng.
(2) Phù mặt, chân, tay.
(3) Nhìn mờ hoặc đau đầu nhiều.
(4) Sốt cao trên 38,5 độ C.
(5) Thấy xanh xao, mệt mỏi, đánh trống ngực, khó thở.
(6) Ra nước ối mà không có cơn đau đẻ.
(7) Có cơn ngất hoặc co giật.
(8) Thấy cử động của thai yếu hơn và ít đi so với mọi ngày.
(9) Sút cân hoặc không tăng cân sau tháng thứ 4.
(10) Đến ngày dự kiến sinh mà chưa chuyển dạ.
7. Chọn nơi đẻ an toàn và chuẩn bị cho cuộc đẻ:
• Nơi đẻ an toàn là cơ sở y tế. Vì đẻ tại cơ sở y tế thì:
• Được những người có chuyên môn đỡ đẻ và chăm sóc
• Có phòng đẻ sạch với dụng cụ đỡ đẻ tiệt trùng, tránh được nhiễm khuẩn gây bệnh cho mẹ và con
• Phát hiện sớm các tai biến và cấp cứu kịp thời
• Có sẵn thuốc, phương tiện cấp cứu khi cần thiết
• Được tư vấn về cách chăm sóc mẹ và con, về KHHGĐ sau sinh
• Chuẩn bị tiền, đồ dùng cho cả mẹ và con, thẻ bảo hiểm y tế, giấy tờ tùy thân (chứng minh thư, căn cước công dân…), Sổ theo dõi sức khỏe bà mẹ – trẻ em hoặc Sổ khám thai, quần áo, khăn, tã lót, mũ, tất (vớ), giấy vệ sinh, cốc (ly), thìa (muỗng)…
• Đến gần ngày sinh nên ở nhà, không đi đâu xa.
8. Người chồng và gia đình chăm sóc, giúp đỡ phụ nữ khi mang thai:
• Nhắc nhở và đưa phụ nữ mang thai đi khám thai và tiêm phòng uốn ván đúng lịch
• Sắp xếp công việc để phụ nữ mang thai làm việc nhẹ nhàng.
• Chuẩn bị thức ăn giàu dinh dưỡng cho phụ nữ mang thai.
• Nhắc phụ nữ mang thai uống viên sắt – axít folic đều đặn hàng ngày.
• Giúp đỡ để người phụ nữ mang thai tránh tiếp xúc với độc hại.
• Biết các dấu hiệu nguy hiểm của phụ nữ mang thai để đưa đến cơ sở y tế kịp thời.
• Chuẩn bị tiền, phương tiện vận chuyển hỗ trợ để người phụ nữ mang thai đến cơ sở y tế sinh con an toàn.
• Chuẩn bị chỗ nằm cho bà mẹ và trẻ sơ sinh: nơi có ánh sáng, ấm áp, thoáng khí nhưng không có gió lùa.
• Người chồng động viên vợ khi mang thai để được thoải mái về tâm lý, tránh các tổn thương về tinh thần.
CHỦ ĐỀ 3: CHĂM SÓC BÀ MẸ KHI CHUYỂN DẠ, TRONG VÀ NGAY SAU SINH
THÔNG ĐIỆP CHỦ CHỐT
• Tất cả phụ nữ mang thai cần sinh con tại cơ sở y tế để đảm bảo an toàn cho mẹ và con.
• Khi người phụ nữ mang thai có dấu hiệu chuyển dạ cần được đưa ngay đến ngay cơ sở y tế để sinh đẻ đảm bảo an toàn cho cả mẹ và con.
• Nếu không thể đến được cơ sở y tế thì gia đình cần nhanh chóng mời cán bộ của trạm y tế xã hoặc cô đỡ thôn bản đến đỡ đẻ.
• Trong cuộc đẻ, bà mẹ cần yên tâm, tin tưởng và làm theo hướng dẫn của cán bộ y tế để cuộc đẻ dễ dàng hơn.
• Không được dùng các dụng cụ chưa được tiệt trùng để cắt rốn hoặc buộc cuống rốn cho trẻ.
• Khi phát hiện thấy một trong các dấu hiệu nguy hiểm thì cần chuyển ngay sản phụ đến cơ sở y tế gần nhất.
• Người chồng và gia đình cần chăm sóc giúp đỡ bà mẹ yên tâm khi sinh con.
THÔNG TIN HỖ TRỢ
1. Chăm sóc bà mẹ khi chuyển dạ:
• Các dấu hiệu của cuộc chuyển dạ là: đau bụng từng cơn tăng dần, ra dịch hồng hoặc ra nước ở âm đạo.
• Khi phụ nữ mang thai có một trong các dấu hiệu chuyển dạ thì cần được đưa đến ngay cơ sở y tế để sinh đẻ.
• Nếu không thể đến đẻ tại cơ sở y tế thì cần mời cán bộ y tế hoặc cô đỡ thôn, bản đến hỗ trợ, đồng thời chuẩn bị nơi đẻ sạch sẽ, gói đỡ đẻ sạch, các dụng cụ cần thiết cho cuộc đẻ; chuẩn bị sẵn tiền và các phương tiện để chuyển bà mẹ và trẻ sơ sinh đến cơ sở y tế trong trường hợp cần thiết .
2. Chăm sóc bà mẹ trong và ngay sau sinh:
• Nếu đẻ tại nhà thì cần dùng gói đỡ đẻ sạch và có sự giúp đỡ của người đã được đào tạo về đỡ đẻ như cán bộ y tế, cô đỡ thôn, bản.
• Cần động viên tinh thần cho bà mẹ và theo dõi trong suốt cuộc đẻ.
• Các dấu hiệu nguy hiểm trong khi chuyển dạ và trong khi sinh:
1. Đau quá 8 giờ mà chưa đẻ.
2. Đau quá mức chịu đựng của bà mẹ.
3. Khi đẻ đầu thai nhi không ra trước mà tay hoặc chân lại ra trước.
4. Dây rau (dây rốn) ra mà thai nhi chưa ra.
5. Ra máu trên 50 ml (khoảng 1 ly trà).
6. Nước ối màu xanh, nâu bẩn hoặc vàng.
7. Sau khi sinh 30 phút mà rau thai chưa ra.
8. Khi rau thai chưa ra mà chảy máu nhiều.
9. Đau đầu, mắt mờ hoặc ngất xỉu.
10. Sốt.
3. Người chồng và người trong gia đình chăm sóc, giúp đỡ bà mẹ khi sinh đẻ:
• Đưa bà mẹ đến cơ sở y tế sinh đẻ để được an toàn. Trường hợp không thể đến đẻ tại cơ sở y tế thì cần mời cán bộ y tế hoặc cô đỡ thôn, bản đến hỗ trợ bà mẹ đẻ tại nhà.
• Biết các dấu hiệu nguy hiểm của bà mẹ khi chuyển dạ và khi sinh để đưa đến cơ sở y tế kịp thời.
• Động viên để bà mẹ bớt lo âu, thoải mái và yên tâm vượt qua cuộc đẻ an toàn.
CHỦ ĐỀ 4: CHĂM SÓC BÀ MẸ SAU SINH
THÔNG ĐIỆP CHỦ CHỐT
• Giúp đỡ bà mẹ đặt trẻ da kề da với mẹ trong vòng 90 phút đầu sau sinh và cho trẻ bú mẹ sớm trong vòng 1 giờ đầu sau sinh.
• Sau khi sinh, bà mẹ cần được nghỉ ngơi và ngủ đủ giấc.
• Trong ngày đầu, cần vệ sinh sạch sẽ vùng sinh dục, thay băng vệ sinh và theo dõi phát hiện dấu hiệu nguy hiểm ở bà mẹ sau sinh. Nếu có bất cứ dấu hiệu nào thì báo ngay cho cán bộ y tế hoặc đưa ngay bà mẹ đến cơ sở y tế.
• Đưa ngay bà mẹ sau sinh đến cơ sở y tế khi thấy có dấu hiệu nguy hiểm để được cứu chữa kịp thời. Đừng vì sợ dịch bệnh mà chậm đưa bà mẹ đến cơ sở y tế vì có thể nguy hiểm đến tính mạng.
• Trong thời kỳ thời kỳ sau sinh (42 ngày, tương đương 6 tuần sau sinh), bà mẹ cần được nghỉ ngơi, vận động nhẹ nhàng, ăn uống theo chế độ dinh dưỡng hợp lý (đủ 4 nhóm thực phẩm: chất bột, chất đạm, chất béo, vitamin và khoáng chất), uống đủ nước, uống viên sắt, vi-ta-min A theo hướng dẫn của cán bộ y tế.
• Ngay khi kết thúc thời kỳ sau sinh, nếu đã có quan hệ tình dục trở lại, bà mẹ và người chồng cần áp dụng biện pháp tránh thai thích hợp để phòng mang thai ngoài ý muốn.
• Người chồng và gia đình cần quan tâm chăm sóc bà mẹ sau sinh, động viên tinh thần, làm bớt công việc để bà mẹ phục hồi sức khỏe và đủ sữa cho con bú.
• Tiếp tục sử dụng “Sổ theo dõi Sức khoẻ Bà mẹ Trẻ em” để biết cách theo dõi, chăm sóc sức khỏe cho bà mẹ.
THÔNG TIN HỖ TRỢ
1. Chăm sóc bà mẹ ngày đầu sau sinh: Ngày đầu tiên sau sinh, bà mẹ mệt và cũng rất dễ xảy ra tai biến. Vì vậy, cần được chăm sóc đặc biệt:
• Để bà mẹ nằm nơi yên tĩnh nghỉ ngơi hoặc ngủ để lấy lại sức.
• Có thể xoa nhẹ vùng bụng dưới để tử cung co tốt, giúp tránh chảy máu.
• Cho trẻ bú mẹ trong vòng 1 giờ đầu sau sinh. Trẻ bú sớm sẽ kích thích tử cung co hồi tránh chảy máu, giúp sớm tiết sữa, đồng thời mẹ cho trẻ bú có tác dụng giữ ấm cho trẻ, giúp trẻ tránh bị giảm thân nhiệt, trẻ được bú sữa non do đó giảm nguy cơ viêm đường hô hấp trên ở trẻ sau này. Cho trẻ bú mẹ làm tăng thêm tình cảm mẹ con.
• Bà mẹ cần được chăm sóc tại cơ sở y tế ít nhất 24 giờ sau sinh.
• Cán bộ y tế tư vấn, hướng dẫn bà mẹ cách cho con bú đúng cách, bú mẹ hoàn toàn, cách vắt sữa…
• Bà mẹ nên ăn các thức ăn mềm, đủ chất dinh dưỡng để lấy lại sức và có sữa cho con bú.
• Theo dõi sản dịch để sớm phát hiện chảy máu sau sinh, nếu thấy ra máu đỏ tươi hoặc có máu cục cần báo ngay cho cán bộ y tế hoặc đưa ngay đến cơ sở y tế.
2. Chăm sóc bà mẹ thời kỳ sau sinh: Thời kỳ sau sinh là giai đoạn 42 ngày sau sinh, tương đương 6 tuần.
• Ăn uống đầy đủ, ăn nhiều loại thức ăn, uống đủ nước, khoảng 2-3 lít nước mỗi ngày.
• Tiếp tục uống viên sắt đến hết tháng đầu sau sinh.
• Uống 1 viên Vitamin A 200.000 đơn vị theo hướng dẫn của cán bộ y tế.
• Vệ sinh vùng kín ít nhất 3 lần mỗi ngày khi còn sản dịch, thay băng vệ sinh (khố). Tắm nhanh bằng nước ấm, trong phòng kín gió.
• Không sử dụng bất cứ loại thuốc nào khi chưa có hướng dẫn của cán bộ y tế.
• Ngủ đủ giấc, ít nhất 8 giờ một ngày.
• Nghỉ ngơi ít nhất 6 tuần sau sinh.
• Bà mẹ sau sinh và người thân cần theo dõi và phát hiện các dấu hiệu nguy hiểm ở bà mẹ sau sinh. Khi có bất kỳ dấu hiệu nào thì cần báo ngay cho cán bộ y tế hoặc đưa ngay đến cơ sở y tế.
• Các dấu hiệu nguy hiểm trong thời kỳ sau sinh bao gồm:
(1) Ra máu tăng dần hoặc có máu cục.
(2) Sốt.
(3) Đau bụng âm ỉ kéo dài hoặc dịch chảy ra từ cửa mình có mùi hôi.
(4) Phù mặt, chân, tay hoặc nhìn mờ, đau đầu nhiều.
(5) Ngất hoặc co giật.
• Bà mẹ sau sinh và gia đình cần theo dõi và phát hiện các rối loạn cảm xúc như mất ngủ, lo lắng, mệt mỏi, buồn chán… Đó có thể là những biểu hiện của bệnh lý trầm cảm sau sinh. Nếu có những dấu hiệu này thì bà mẹ cần chia sẻ với chồng người thân trong gia đình và xin ý kiến của cán bộ y tế.
• Không sinh hoạt tình dục trong 42 ngày đầu (6 tuần) sau sinh. Bà mẹ có thể có thai ngay sau khi kết thúc thời kỳ sau sinh. Nếu có thai sẽ ảnh hưởng đến sức khoẻ của bà mẹ, trẻ sơ sinh và của cả thai nhi. Vì vậy, nếu có quan hệ tình dục trở lại, bà mẹ và người chồng cần tham vấn cán bộ y tế để lựa chọn và áp dụng biện pháp tránh thai phù hợp. Có nhiều biện pháp tránh thai phù hợp cho bà mẹ sau sinh như dụng cụ tử cung, bao cao su, viên uống tránh thai dành cho bà mẹ đang cho con bú, thuốc tiêm hoặc thuốc cấy tránh thai…
• Nếu có thai ngoài ý muốn cần đến cơ sở y tế để được tư vấn và lựa chọn giải pháp phù hợp.
3. Người chồng và gia đình chăm sóc, giúp đỡ bà mẹ sau sinh:
• Hỗ trợ bà mẹ cho con bú ngay trong vòng 1 giờ đầu sau sinh và cho trẻ bú mẹ hoàn toàn cả ngày lẫn đêm.
• Giúp đỡ bà mẹ giảm cương tức vú bằng cách xoa nhẹ làm mềm, tư vấn cán bộ y tế để được giúp đỡ.
• Hỗ trợ bà mẹ khi gặp khó khăn trong việc cho con bú, tư vấn cán bộ y tế để được giúp đỡ.
• Chuẩn bị thức ăn giàu dinh dưỡng, ấm nóng cho bà mẹ để tăng tiết sữa.
• Nhắc bà mẹ uống viên sắt – axít folic đều đặn hàng ngày.
• Biết các dấu hiệu nguy hiểm của bà mẹ sau sinh để đưa đến cơ sở y tế kịp thời.
• Động viên tinh thần, giúp cho bà mẹ thoải mái về tâm lý, phục hồi sức khỏe và yên tâm chăm sóc trẻ sơ sinh.
CHỦ ĐỀ 5: CHĂM SÓC TRẺ SƠ SINH
THÔNG ĐIỆP CHỦ CHỐT
• Thời kì sơ sinh của trẻ được tính từ khi trẻ bắt đầu sinh ra đến 28 ngày sau sinh.
• Chăm sóc trẻ sơ sinh tốt sẽ giúp trẻ có khởi đầu khỏe mạnh, làm nền tảng cho sự phát triển thể chất và tinh thần, giảm bệnh tật và tử vong trẻ sơ sinh.
• Đặt trẻ da kề da với mẹ ngay sau sinh ít nhất 90 phút và cho trẻ bú mẹ sớm trong 1 giờ đầu sau sinh.
• Trẻ cần được theo dõi tại cơ sở y tế ít nhất 24 giờ đầu sau sinh.
• Sau bữa bú đầu tiên, trẻ cần được chăm sóc đặc biệt cẩn thận, bao gồm giữ ấm cho trẻ sơ sinh; cân trọng lượng lúc sinh, đo vòng đầu; tiêm phòng viêm gan B; tiêm vitamin K1 phòng xuất huyết não, màng não; theo dõi màu da, nhịp thở, tình trạng đái, ỉa, tình trạng rốn; phát hiện các dấu hiệu bất thường khác…
• Những chăm sóc chính trong suốt thời kỳ sơ sinh bao gồm: Giữ ấm; Cho trẻ luôn được nằm cạnh mẹ; Bú mẹ hoàn toàn và bú theo nhu cầu của trẻ; Chăm sóc rốn, da, mắt; Tiêm phòng lao; Theo dõi phát hiện những bất thường và dấu hiệu nguy hiểm ở trẻ.
• Đưa ngay trẻ sơ sinh đến cơ sở y tế khi thấy có dấu hiệu nguy hiểm để được cứu chữa kịp thời. Đừng vì sợ dịch bệnh mà chậm đưa trẻ đến cơ sở y tế vì có thể nguy hiểm đến tính mạng.
• Không tự ý dùng bất cứ loại thuốc nào cho trẻ sơ sinh khi không có hướng dẫn của cán bộ y tế.
• Người chồng và các thành viên trong gia đình cần hỗ trợ bà mẹ theo dõi và chăm sóc trẻ sơ sinh.
• Sử dụng “Sổ theo dõi sức khoẻ bà mẹ – trẻ em” để theo dõi, chăm sóc sức khỏe cho trẻ sơ sinh.
THÔNG TIN HỖ TRỢ
1. Các chăm sóc cần thiết cho trẻ ngay sau sinh
Trong ngày đầu tiên khi trẻ mới sinh ra, trẻ còn yếu ớt. Số trẻ tử vong trong ngày đầu là cao nhất. Vì vậy, gia đình và cán bộ y tế cần chăm sóc trẻ mới sinh ngày đầu đặc biệt cẩn thận. Việc chăm sóc trẻ ngày đầu bao gồm: Giữ ấm, cho trẻ bú mẹ, được cán bộ y tế chăm sóc và theo dõi trẻ tại cơ sở y tế.
• Giữ ấm cho trẻ bằng cách:
• Ủ ấm cho trẻ bằng cách lau khô toàn thân ngay sau khi lọt lòng mẹ, sau đó cho trẻ nằm trên ngực mẹ, tiếp xúc da – kề – da với mẹ trong vòng 90 phút đầu sau sinh.
• Sau khi tiếp xúc da – kề – da, cần mặc ấm cho trẻ, đặt trẻ nằm cạnh mẹ cả ngày và đêm.
• Mẹ và trẻ nằm trong phòng ấm đủ ánh sáng, tránh gió lùa. Không để trẻ bị lạnh hoặc tiếp xúc trực tiếp dưới ánh nắng mặt trời.
• Cho trẻ bú mẹ ngay trong vòng 1 giờ đầu sau sinh và chỉ cho bú mẹ, không cho bất cứ thức ăn, nước uống nào khác.
• Trẻ được cán bộ y tế chăm sóc: cân và đo; chăm sóc rốn, mắt; tiêm vitamin K1, tiêm phòng viêm gan B.
• Theo dõi: xem trẻ thở có bình thường không? Da có hồng không? Có chảy máu rốn không? Bàn chân có bị lạnh không? Có bỏ bú không? Có đi đái, đi ỉa không?
• Nếu thấy trẻ có 1 trong các dấu hiệu: không bú, thở khó hay không thở, tím tái, chảy máu ở rốn cần báo ngay cho cán bộ y tế.
• Kiểm tra tã lót để theo dõi phân su, nước tiểu của trẻ. Nếu sau 1 ngày thấy trẻ vẫn không ỉa hay không đái thì cần báo ngay cho cán bộ y tế.
• Trẻ cần được theo dõi tại cơ sở y tế ít nhất 24 giờ đầu sau sinh.
• Khi sinh tại nhà, nếu thấy trẻ có một trong các dấu hiệu nguy hiểm thì cần đưa trẻ đến ngay cơ sở y tế để được cấp cứu kịp thời. Trên đường đưa trẻ đến cơ sở y tế cần ủ ấm cho trẻ, tốt nhất là đặt trẻ tiếp xúc da-kề-da với mẹ (hoặc người nhà – nếu mẹ không thể đi cùng) trên đường vận chuyển.
2. Các chăm sóc chính trong thời kỳ sơ sinh
Trong suốt thời kỳ sơ sinh, trẻ vẫn cần được chăm sóc chu đáo. Những chăm sóc chính trong thời kỳ sơ sinh bao gồm: Giữ ấm, bú mẹ hoàn toàn, tiêm phòng lao, chăm sóc rốn, mắt và vệ sinh cho trẻ.
Cách giữ ấm cho trẻ sơ sinh:
Trẻ sơ sinh dễ bị mất nhiệt, nếu bị lạnh quá trẻ có thể bị tử vong. Trẻ sơ sinh không tự điều chỉnh được nhiệt độ của mình như người lớn nên có thể bị nóng và lạnh rất nhanh. Vì vậy, trong thời kỳ sơ sinh vẫn cần tiếp tục giữ ấm cho trẻ.
• Có thể giữ ấm cho trẻ vừa sinh ra bằng phương pháp da-kề-da với mẹ ( hay còn gọi là phương pháp Căng-gu-ru: trẻ ở trần, nằm trên ngực mẹ, da trẻ tiếp xúc trực tiếp với da mẹ). Ông bố hoặc người nhà cũng có thể cho trẻ tiếp xúc da-kề-da thay cho bà mẹ.
• Lợi ích của tiếp xúc da-kề-da:
• Trẻ được ủ ấm bằng hơi ấm từ cơ thể mẹ.
• Kích thích con tìm vú mẹ và kích thích mẹ tiết sữa sớm.
• Trẻ được ôm ấp trong vòng tay của mẹ, làm tăng cường tình cảm mẹ con.
• Nên thực hiện:
• Mặc ấm, đội mũ, đi tất (vớ) cho trẻ. Nên mặc đồ vải mềm và thoáng cho trẻ. Không nên mặc đồ vải có nilông.
• Cho trẻ luôn nằm cạnh mẹ để được mẹ ủ ấm và bú mẹ bất cứ khi nào trẻ muốn.
• Giữ phòng ở của bà mẹ và trẻ sơ sinh thoáng, đủ ánh sáng, không có gió lùa, ấm áp cả ngày lẫn đêm, cả về mùa hè.
• Không được làm:
• Không để quạt thổi trực tiếp vào trẻ.
• Không tắm hoặc lau rửa cho trẻ trước 24 giờ đầu sau sinh. Không dùng nước lạnh để tắm hoặc lau rửa cho trẻ. Nếu trời rét, trẻ bị lạnh, trẻ nhẹ cân, trẻ không khỏe thì không cần phải tắm hàng ngày.
• Không sưởi bằng than, không nằm gần bếp vì sẽ có hại cho sức khoẻ của mẹ và con. Có thể sưởi ấm bằng túi chườm hoặc lò sưởi điện.
• Không cho trẻ ra ngoài trời nếu thời tiết lạnh dưới 20 độ C.
• Không cho trẻ sơ sinh lên nương rẫy.
Nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn
• Cho trẻ bú mẹ ngay trong vòng 1 giờ đầu sau sinh, ngay cả khi sữa chưa về để trẻ được bú sữa non. Sữa non được hình thành từ tuần thứ 14-16 của thai kỳ và được tiết ra trong 1-3 ngày sau sinh. Sữa non có màu vàng nhạt hoặc trong, sánh đặc, giàu chất kháng khuẩn, nhiều vitamin A, chất đạm giúp trẻ phòng chống nhiễm khuẩn. Trong 3 ngày đầu thường lượng sữa chưa nhiều (còn gọi là sữa chưa về) nhưng đủ cho trẻ mới sinh vì:
• Ngày thứ nhất sau sinh, dạ dày của trẻ chỉ có thể chứa tối đa 5-7ml sữa và sẽ tiêu hoá trong vòng 1 giờ. Như vậy dung tích dạ dày trẻ và lượng sữa non là hoàn toàn phù hợp với tần suất bú 10-12 lần/ngày.
• Ngày thứ 3: dung tích dạ dày bằng quả bóng bàn, chứa được 22-27ml
• Ngày thứ 5-7: Bằng quả trứng gà, chứa được 43-57 ml
• Trẻ bú sớm tốt cho cả mẹ và con: Trẻ mút vú làm cho sữa về nhanh hơn, giúp dạ con co tốt hơn, giảm nguy cơ chảy máu sau sinh cho mẹ, giúp trẻ được ấm áp hơn.
• Cho trẻ bú hoàn toàn bằng sữa mẹ mà không cần cho ăn hoặc uống thêm bất cứ thứ gì khác, kể cả nước tráng miệng.
• Cho trẻ bú theo nhu cầu, bất cứ khi nào trẻ muốn, cả ngày lẫn đêm.
• Mẹ có thể nằm, ngồi hoặc đứng cho trẻ bú.
• Tư thế cho trẻ bú đúng: giữ cho thân và đầu trẻ thẳng hàng, miệng trẻ đối diện vú mẹ, thân trẻ áp sát vào người mẹ.
•Cho trẻ bú hết sữa bầu vú bên này rồi mới chuyển sang bên kia.
• Trẻ bị ốm (đau) càng cần cho bú nhiều hơn.
• Trẻ không bú được thì vắt sữa mẹ và cho uống bằng cốc hoặc thìa. Không cho trẻ bú bình vì trẻ dễ bị tiêu chảy.
• Cho trẻ ngậm bắt vú mẹ đúng cách:
• Miệng trẻ mở rộng, ngậm sâu vào quầng vú.
• Nhìn thấy quầng vú phía trên còn nhiều hơn ở phía dưới.
• Môi dưới của trẻ hướng ra ngoài (vành môi dưới của trẻ trề ra).
• Cằm trẻ tì sát vào vú mẹ.
• Để có đủ sữa cho con, người mẹ cần:
• Cho trẻ bú lần lượt từng bên, bú hết vú bên này mới chuyển sang vú bên kia.
• Ăn đủ chất dinh dưỡng, uống đủ nước (mỗi ngày khoảng 2-3 lít nước).
• Giữ cho tinh thần thoải mái, nghỉ ngơi hợp lý, ngủ ít nhất 8 giờ mỗi ngày và tin tưởng mình có đủ sữa nuôi con.
• Cho trẻ bú nhiều lần, cả ban ngày và ban đêm.
• Cho trẻ ngậm bắt vú đúng thì trẻ sẽ bú đủ và mẹ sẽ tiết nhiều sữa hơn, tránh được nguy cơ tắc tia sữa và nứt chân núm vú (nứt cổ gà).
• Cách vắt sữa mẹ và cho trẻ ăn sữa bằng thìa (muỗng) và cốc (ly).
• Chuẩn bị cốc sạch có nắp đậy, nên chọn loại cốc có miệng rộng.
• Rửa tay bằng xà phòng và nước sạch,
• Dùng khăn mềm, sạch và nước ấm lau nhẹ cả núm vú và bầu vú.
• Vắt sữa bằng tay bằng ký thuật Ấn – Ép – Xoay: Để ngón tay cái lên trên núm vú và quầng vú, ngón trỏ ở phía dưới, 3 ngón còn lại đỡ lấy bầu vú: – Ấn ngón cái và ngón trỏ nhẹ nhàng vào phía thành ngực; – Ép vào phía sau núm vú và quầng vú giữa ngón cái và ngón trỏ, ép vào rồi thả ra nhiều lần; – Xoay xung quanh quầng vú từ nhiều phía để vắt được hết sữa.
• Đựng sữa mẹ vắt ra trong cốc sạch, đậy nắp kín. Để sữa mẹ nơi thoáng mát ở nhiệt độ phòng (19-26 độ), sử dụng tốt nhất trong vòng 4 giờ (có thể để được 6-8 giờ); trong ngăn mát tủ lạnh (<4 độC), sử dụng tốt nhất trong 4 ngày (có thể tới 8 ngày); trong ngăn đá tủ lạnh (-18 đến -20 độC), sử dụng tốt nhất trong 6 tháng (có thể tới 12 tháng). Cho từ 60-120ml sữa vào một cốc (đủ ăn 1 lần) và ghi ngày giờ vắt sữa vào cốc. Khi mang sữa ra khỏi tủ lạnh (nếu lấy từ ngăn đá cần rã đông bằng cách đưa sữa xuống ngăn mát tủ lạnh cho đỡ đông, rồi để ở nhiệt độ thường cho đến khi tan hết đá), để sữa ấm tự nhiên hoặc đặt vào chén nước ấm. Không làm ấm sữa mẹ bằng cách đun trên bếp hoặc cho vào lò vi sóng.
• Cho trẻ uống sữa bằng thìa hoặc cốc. Không cho trẻ bú bình và đầu vú giả.
Cách chăm sóc rốn: Bình thường rốn rụng tự nhiên sau sinh 5 đến 10 ngày. Rốn là nơi dễ nhiễm khuẩn, là đường xâm nhập của vi khuẩn, đặc biệt là vi khuẩn gây bệnh uốn ván sơ sinh (là một bệnh nặng, tỷ lệ tử vong rất cao). Vì vậy, cần chăm sóc rốn cho tốt để không bị nhiễm khuẩn.
• Nếu đẻ tại nhà, phải cắt rốn bằng dụng cụ sạch và vô khuẩn. Sử dụng dụng cụ trong gói đỡ đẻ sạch để cắt rốn và kẹp cuống rốn. Tuyệt đối không cắt rốn bằng các dụng cụ chưa được tiệt khuẩn như dao, kéo, liềm, dao lam, cật nứa… Để rốn hở, không băng kín. Không bôi hoặc đắp bất cứ thứ gì lên rốn.
• Giữ cho rốn khô, sạch.
• Đóng khố (tã thấm) hoặc bỉm (tã giấy) ở phía dưới rốn, quấn tã sạch bên ngoài. Không để nước tiểu hay phân dính vào cuống rốn. Nếu bị dính thì phải rửa bằng nước muối sinh lý hoặc nước đun sôi để nguội rồi thấm khô.
• Không sờ vào cuống rốn và vùng quanh rốn.
• Rốn rụng rồi vẫn cần giữ chân rốn khô cho tới khi liền sẹo.
Cần đưa trẻ đến cơ sở y tế khi thấy một trong các dấu hiệu sau ở rốn:
• Chảy máu rốn.
• Sưng đỏ vùng xung quanh rốn.
• Rốn có mùi hôi, chảy nước vàng.
• Rốn có mủ.
• Chân rốn, cuống rốn phình to hoặc có u, cục nổi.
• Quá 10 ngày mà rốn chưa rụng.
Cách chăm sóc mắt:
• Hàng ngày lau mắt bằng khăn mềm, sạch, ẩm.
• Không nhỏ bất cứ thứ gì vào mắt trẻ.
Bảo đảm vệ sinh cho trẻ:
• Người chăm sóc trẻ phải vệ sinh sạch sẽ: cần cắt ngắn móng tay, rửa tay bằng xà phòng và nước sạch trước và sau khi bế trẻ, trước khi cho trẻ bú, trước khi tắm cho trẻ và sau khi thay tã lót cho trẻ.
• Giữ vệ sinh da hàng ngày cho trẻ, tắm cho trẻ đúng cách.
• Rửa sạch và lau khô bộ phận sinh dục và hậu môn sau khi trẻ đái, ỉa.
• Các dụng cụ dùng cho trẻ như thìa (muỗng), cốc (ly)…) phải đảm bảo sạch sẽ bằng cách luộc sôi trước khi dùng cho trẻ.
• Phòng trẻ nằm phải thoáng, sạch, không có khói thuốc lá, khói bếp, khói than.
• Trẻ phải ngủ trong màn để tránh muỗi và côn trùng đốt.
• Không cho trẻ tiếp xúc với người đang bị bệnh hoặc vật nuôi trong nhà.
Tắm cho trẻ sơ sinh: Tắm cho trẻ từ ngày thứ 2 sau sinh bằng nước ấm. Không nhất thiết phải tắm hàng ngày, đặc biệt khi thời tiết lạnh.
• Khi tắm, trẻ có nguy cơ bị mất nhiệt nên phải tắm trong phòng kín gió, nên có lò sưởi điện về mùa lạnh.
• Cần chuẩn bị mọi thứ sẵn sàng như áo, mũ, tã, khăn, tất (vớ), xà phòng dùng cho trẻ sơ sinh, chậu sạch, nước ấm (35-37 độ C).
• Khi tắm cần gội đầu cho trẻ trước, lau khô tóc, sau đó tắm phần thân của trẻ. Cho phần thân trẻ ngập trong chậu nước ấm để đảm bảo trẻ không bị nhiễm lạnh trong khi tắm, một tay giữ đầu trẻ bên trên mặt nước, tay còn lại kỳ cọ nhẹ nhàng trên da trẻ.
• Dùng khăn mềm khi tắm, không chà xát mạnh gây xây xát da trẻ.
• Lau khô, mặc ấm cho trẻ ngay sau tắm.
• Thời gian tắm không nên kéo dài quá 10 phút.
3. Theo dõi, phát hiện dấu hiệu nguy hiểm và một số bệnh nặng thường gặp, xử trí một số trường hợp bất thường ở trẻ sơ sinh
Những việc cần theo dõi ở trẻ sơ sinh
Trẻ sơ sinh rất non yếu, dễ mắc bệnh, khi mắc bệnh dễ trở nặng.
Bà mẹ và gia đình cần biết những dấu hiệu bình thường và dấu hiệu nguy hiểm của trẻ sơ sinh và theo dõi cẩn thận.
Các dấu hiệu bình thường ở trẻ là:
• Màu da: Trẻ mới lọt lòng da màu đỏ sau chuyển sang hồng hào. Từ ngày thứ 3 đến ngày thứ 8 trẻ có vàng da nhẹ.
• Nhịp thở: Trẻ thở bình thường từ 40 đến 60 lần trong 1 phút. Nhịp thở êm, nhẹ, không co rút lồng ngực.
• Thân nhiệt: Nhiệt độ cơ thể bình thường từ 36,5 đến 37,4 độ C.
• Bú mẹ: Trẻ thường bú mẹ từ 8 đến 12 lần cả ngày lẫn đêm.
• Đại tiện: Trẻ đi ngoài phân su trong 24 giờ đầu, sau đó phân vàng; bình thường trẻ đi ngoài từ 3 đến 4 lần trong một ngày.
• Tiểu tiện: Bình thường trẻ đi tiểu từ 7 đến 8 lần trong một ngày.
• Rốn: Bình thường rốn khô, không hôi, rụng tự nhiên sau sinh 5 đến 10 ngày và liền sẹo.
Phát hiện những dấu hiệu nguy hiểm ở trẻ sơ sinh:
• Dấu hiệu nguy hiểm đối với trẻ sơ sinh là những dấu hiệu đe dọa nghiêm trọng đến sức khỏe, thậm chí có thể gây tử vong do không được phát hiện sớm và cấp cứu kịp thời.
• Các dấu hiệu nguy hiểm ở trẻ sơ sinh:
(1) Bú ít hoặc bỏ bú.
(2) Ngủ li bì khó đánh thức.
(3) Thở khác thường (thở chậm dưới 40 lần hoặc thở nhanh trên 60 lần trong 1 phút, co rút lồng ngực, cánh mũi phập phồng, khò khè).
(4) Co cứng hoặc co giật.
(5) Sốt cao (trên 38,5 độ C) hoặc hạ thân nhiệt (dưới 36 độ C).
(6) Mắt sưng đỏ hoặc có mủ.
(7) Rốn sưng đỏ hoặc chảy mủ.
(8) Vàng da xuất hiện trước 3 ngày tuổi, đặc biệt là vàng da xuất hiện trong 24 giờ sau sinh; vàng da kéo dài trên 14 ngày; vàng da lan nhanh đến bụng, đùi, chân trong những ngày đầu sau sinh; vàng da xuất hiện cả trong lòng bàn tay hoặc lòng bàn chân; vàng da kèm phân bạc màu.
(9) Nôn liên tục.
(10) Bụng chướng to.
(11) Đi ỉa nhiều nước, nhiều lần hơn bình thường.
(12) Trẻ không đái hoặc ỉa sau 24 giờ từ khi sinh.
• Nếu phát hiện thấy dấu hiệu bất thường thì phải đưa ngay trẻ đến cơ sở y tế. Trên đường đưa trẻ đến cơ sở y tế cần ủ ấm cho trẻ, tốt nhất là đặt trẻ tiếp xúc da con kề da mẹ.
• Những bệnh nguy hiểm thường gặp ở trẻ sơ sinh:
1. Vàng da: Bình thường vàng da sẽ xuất hiện từ ngày thứ 3 đến ngày thứ 8, da của trẻ chuyển màu vàng nhạt và chỉ vàng ở phần da mặt, cánh tay, đùi, chân và thân mình.. Nếu vàng da xuất hiện trước 3 ngày tuổi, đặc biệt là vàng da xuất hiện trong 24 giờ sau sinh, vàng da kéo dài trên 14 ngày, vàng da lan nhanh đến bụng, đùi, chân trong những ngày đầu sau sinh, vàng da xuất hiện cả trong lòng bàn tay hoặc lòng bàn chân, vàng da kèm phân bạc màu thì đó có thể là tình trạng bệnh lý nguy hiểm, cần đưa trẻ đến cơ sở y tế để thăm khám kịp thời. .
2. Nhiễm khuẩn mắt là khi mắt trẻ bị sưng đỏ hoặc có mủ. Trẻ bị nhiễm khuẩn mắt cần được cán bộ y tế khám để xử trí ngay.
3. Nhiễm khuẩn rốn là khi rốn sưng đỏ, chảy nước hoặc chảy mủ. Nhiễm khuẩn rốn rất nguy hiểm nên trẻ cần được cán bộ y tế khám để xử trí ngay.
Cách phòng và xử trí một số trường hợp bất thường hay gặp ở trẻ sơ sinh:
• Nôn trớ: Dạ dày trẻ sơ sinh nhỏ, nằm ngang nên dễ bị nôn trớ. Vì vậy cần:
• Bế trẻ ở tư thế đầu cao khi cho bú.
• Khi trẻ bú cần xem trẻ có nuốt sữa không? Nếu thấy trẻ không muốn bú, sữa còn trong miệng thì phải dừng cho bú.
• Sau khi bú xong nên bế trẻ cao đầu áp vào vai hoặc ngực mẹ, vỗ nhẹ lưng đến khi trẻ ợ bớt hơi trong dạ dày mới đặt trẻ nằm. Với những trẻ hay nôn trớ, nên đặt trẻ nằm nghiêng đầu và luôn có người bên cạnh.
• Hăm: Da trẻ sơ sinh mỏng, rất dễ bị tổn thương. Khi ẩm ướt dễ bị hăm. Dấu hiệu là vùng quấn tã da sưng đỏ. Vì vậy cần:
• Không để tã lót ướt, bẩn. Khi trẻ đái ỉa cần rửa sạch, thấm khô ngay và thay tã lót khô, sạch sẽ.
• Khi trẻ bị hăm cần bôi thuốc theo hướng dẫn của cán bộ y tế.
• Rửa tay sạch trước và sau khi chăm sóc trẻ
• Tưa miệng: Là khi lưỡi và mặt trong miệng của trẻ bị nhiễm nấm có các vệt trắng. Khi trẻ bị tưa cần:
• Rửa sạch và luộc sôi bát (chén), cốc (ly), thìa (muỗng) dùng cho trẻ.
• Đánh tưa cho trẻ theo hướng dẫn của cán bộ y tế.
• Rửa tay sạch trước và sau khi chăm sóc trẻ.
• Táo bón: là khi trẻ không đi ngoài sau 3 ngày mà không nôn trớ, không chướng bụng. Khi trẻ bị táo bón cần tăng cường cho trẻ bú mẹ. Xoa quanh rốn của trẻ theo chiều kim đồng hồ vài lần trong ngày. Nếu không đỡ cần đưa trẻ đến cơ sở y tế.
4. Sàng lọc sơ sinh theo hướng dẫn của cán bộ y tế:
• Sàng lọc sơ sinh là việc sử dụng các biện pháp thăm dò trong thời kỳ sơ sinh để phát hiện nguy cơ và chẩn đoán bệnh cho trẻ sơ sinh.
• Bác sĩ được đào tạo sẽ thực hiện sàng lọc sơ sinh trong 24-72 giờ sau sinh tại cơ sở y tế. Các kỹ thuật cho sàng lọc sơ sinh gồm lấy mẫu máu gót chân để làm xét nghiệm, đo thính giác của trẻ và đo độ bão hòa ô xy máu qua da. Việc lấy máu gót chân được thực hiện tại cơ sở y tế nơi trẻ sinh ra hoặc tại trạm y tế để gửi đến cơ sở xét nghiệm chuyên khoa thực hiện.
• Sàng lọc sơ sinh hiện nay có thể phát hiện sớm ở trẻ sơ sinh một số bệnh là suy tuyến giáp bẩm sinh, thiếu men G6PD, tăng sản thượng thận bẩm sinh, một số rối loạn chuyển hoá bẩm sinh, khiếm thính bẩm sinh, bệnh tim bẩm sinh.
• Khi làm sàng lọc, các bác sĩ sẽ tư vấn cho cha mẹ của trẻ trước và sau khi tiến hành làm xét nghiệm cho cháu bé. Nếu phát hiện trẻ bị bệnh tật bẩm sinh, cha mẹ cần đưa trẻ đến bác sĩ chuyên khoa Nhi để khám và điều trị cho cháu bé và được hướng dẫn cách chăm sóc, theo dõi trẻ.
5. Người chồng và gia đình tham gia chăm sóc trẻ sơ sinh:
• Tìm hiểu thông tin trong Sổ theo dõi sức khỏe bà mẹ – trẻ em để biết cách và cùng bà mẹ theo dõi, chăm sóc trẻ sơ sinh.
• Hỗ trợ bà mẹ cho con bú ngay trong vòng 1 giờ đầu sau sinh và cho trẻ sơ sinh bú mẹ hoàn toàn.
• Tham gia chăm sóc vệ sinh, tắm cho trẻ sơ sinh.
• Hỗ trợ bà mẹ khi gặp khó khăn trong việc cho con bú, tư vấn cán bộ y tế để được giúp đỡ.
• Biết cách theo dõi, phát hiện các dấu hiệu nguy hiểm của trẻ sơ sinh để đưa trẻ đến cơ sở y tế kịp thời.
Phần 2: NHỮNG NỘI DUNG CHÍNH CẦN TRUYỀN THÔNG VẬN ĐỘNG VỀ CHĂM SÓC SỨC KHỎE BÀ MẸ VÀ TRẺ SƠ SINH
Đối tượng truyền thông vận động:
• Lãnh đạo Đảng, chính quyền các cấp
• Các đại biểu dân cử (đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng Nhân dân các cấp)
• Cán bộ quản lý các ngành Y tế, Lao động TB & XH, Tài chính, Thông tin & TT, Văn hóa-TT & DL
• Lãnh đạo và cán bộ các tổ chức đoàn thể và tổ chức chính trị xã hội (hội Phụ nữ, hội Nông dân, Đoàn TN CSHCM, Tổng Liên đoàn lao động và các Liên đoàn lao động…)
• Chủ sử dụng lao động, chủ doanh nghiệp, nhà máy xí nghiệp…
• Người có uy tín tại cộng đồng gồm các vị chức sắc tôn giáo, già làng, trưởng bản, trưởng họ tộc.
• Các cơ quan truyền thông đại chúng
Bảng tóm tắt vấn đề ưu tiên vận động cho tăng cường chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ sơ sinh

Nội dung truyền thông vận động:
• Tầm quan trọng của công tác CSSK phụ nữ trước, trong và sau sinh và trẻ sơ sinh.
• Vận động chính sách, tạo môi trường xã hội thuận lợi cho công tác CSSK phụ nữ trước, trong và sau sinh và trẻ sơ sinh: nguồn lực cho cung ứng dịch vụ đảm bảo chất lượng, nguồn lực cho hoạt động Truyền thông Giáo dục sức khỏe, nâng cao năng lực truyền thông cho đội ngũ người cung cấp dịch vụ CSSKBMTE ở các tuyến, duy trì mạng lưới nhân viên y tế thôn bản, cô đỡ thôn bản và truyền thông viên tại cộng đồng.
• Huy động nguồn lực các đoàn thể, tổ chức chính trị xã hội tham gia CSSK phụ nữ trước, trong và sau sinh và trẻ sơ sinh.
• Huy động các cơ quan truyền thông đại chúng tham gia truyền thông và vận động cho CSSK phụ nữ trước, trong và sau sinh và trẻ sơ sinh.
• Tăng cường tiếng nói của phụ nữ trong vận động chính sách và chương trrình CSSK phụ nữ nói chung và phụ nữ trong thời kỳ làm mẹ nói riêng.
THÔNG ĐIỆP CHỦ CHỐT
• Phần lớn tử vong mẹ và tử vong sơ sinh có thể phòng tránh được nếu các can thiệp cứu sống được áp dụng có hiệu quả ở cả cộng đồng và cơ sở y tế.
• Chăm sóc sơ sinh, đặc biệt trong 7 ngày đầu sau sinh nhằm bảo đảm cho mọi trẻ sinh ra đều được sống và khỏe mạnh.
• Quan tâm đầu tư từ ngân sách địa phương, tăng cường cơ sở vật chất cho cơ sở y tế, đặc biệt trạm y tế xã, đảm bảo đáp ứng nhu cầu về chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ sơ sinh.
• Đảm bảo tài chính duy trì nguồn cung cấp các thuốc thiết yếu cho chăm sóc phụ nữ mang thai, bà mẹ khi sinh đẻ, trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ, đặc biệt là các thuốc cấp cứu ở tuyến xã.
• Có chính sách duy trì và củng cố đội ngũ cô đỡ thôn bản là giải pháp hiệu quả trong giảm tử vong mẹ và tử vong sơ sinh ở những vùng núi khó khăn và ở nhóm đồng bào dân tộc thiểu số.
• Đảm bảo chất lượng nhân lực, trang thiết bị, cơ sở vật chất cho chăm sóc sơ sinh của các cơ sở y tế, đặc biệt là chăm sóc cấp cứu sơ sinh là vấn đề cần ưu tiên để giảm tử vong sơ sinh.
• Chăm sóc bà mẹ và trẻ sơ sinh liên tục từ gia đình đến cơ sở y tế là cách hạn chế tốt nhất những nguy cơ tử vong mẹ và tử vong sơ sinh.
• Tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong chăm sóc phụ nữ mang thai, bà mẹ khi sinh đẻ và trẻ sơ sinh để được ưu tiên chăm sóc sức khỏe.
• Cộng đồng (vùng đặc biệt khó khăn) chủ động thiết lập nhóm và thực hiện chuyển tuyến dựa vào cộng đồng để hỗ trợ kịp thời phụ nữ khi mang thai và khi sinh đẻ.
• Tăng cường sự tham gia của phụ nữ trong các hoạt động vận động chính sách để nói lên chu cầu chăm sóc sức khỏe cho bà mẹ và trẻ sơ sinh.
THÔNG TIN HỖ TRỢ
• Tử vong trẻ em dưới 1 tuổi, dưới 5 tuổi ở Việt Nam trong những năm qua đã giảm nhiều, tuy nhiên tử vong sơ sinh giảm còn chậm và còn có sự khác biệt rõ rệt giữa các vùng, miền.
• Nguyên nhân tử vong chính ở trẻ sơ sinh ở nước ta, cũng giống như ở các nước đang phát triển khác gồm ngạt, đẻ non và nhẹ cân, hạ thân nhiệt, hạ đường huyết, dị tật, nhiễm khuẩn.
• Phụ nữ cần được khám thai ≥ 4 lần trong ba thai kỳ, tuy nhiên tỷ lệ này đạt được còn thấp. Tỷ lệ chung của cả nước chỉ đạt 70%, thấp nhất là khu vực trung du và miền núi phía Bắc (40%) và Tây Nguyên (64%).
• Phụ nữ sinh đẻ tại nhà không có cán bộ chuyên môn y tế giúp đỡ là tình trạng còn phổ biến ở một số vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Đẻ tại nhà không được cán bộ y tế được đào tạo về đỡ đẻ đỡ sẽ không được xử trí đúng cách nếu có tai biến sản khoa, dẫn đến tử vong mẹ, tử vong sơ sinh.
• Tử vong mẹ có sự khác biệt rõ rệt giữa vùng núi khó khăn và đồng bằng (3,6 – 4 lần); giữa sinh con tại nhà và tại cơ sở y tế (3,6 – 6 lần); giữa phụ nữ dân tộc thiểu số và Kinh (3,4 – 7,5 lần) và có sự khác biệt giữa các nhóm dân tộc thiểu số.
• Truyền thông, tư vấn trong về chăm sóc bà mẹ trước- trong- sau sinh, chăm sóc trẻ sơ sinh để tăng cường thực hành chăm sóc đúng cách cho bà mẹ và trẻ sơ sinh.